Thi công cọc bê tông ở khu vực đáy sông yếu cần kiểm tra địa chất, thủy văn, định vị, nền hoặc phương tiện thi công, diễn biến hạ cọc và tiêu chí nghiệm thu.
Thi công cọc ở khu vực sông, bến cảng hoặc nền bùn yếu phức tạp hơn thi công trên mặt bằng khô vì phải đồng thời kiểm soát địa chất, dòng chảy, định vị và ổn định thiết bị. Trong bài viết này, Xây Dựng Nền Móng trình bày các nguyên tắc cần xem xét mà không áp các thông số “mặc định” cho mọi công trình.
Vì sao đáy sông yếu khó thi công?
Địa tầng dưới nước có thể gồm bùn, sét mềm, cát bão hòa hoặc các lớp xen kẹp. Chiều dày, sức kháng và mức độ biến đổi của từng lớp phải được xác định từ khảo sát chứ không thể suy ra từ loại sông hoặc độ sâu nước bề mặt.
Dòng chảy, thay đổi mực nước, xói và khả năng ổn định của sà lan/giàn công tác cũng ảnh hưởng trực tiếp tới định vị và an toàn.
Lựa chọn loại cọc
Không có quy tắc rằng cọc PHC D350–D600 hoặc bê tông từ một cấp cố định là bắt buộc cho mọi móng dưới sông. Loại cọc, tiết diện, vật liệu và chiều dài được lựa chọn từ tải trọng, môi trường xâm thực, địa chất, thiết bị và yêu cầu tuổi thọ.
Nếu sử dụng cọc bê tông ly tâm ứng lực trước cần đối chiếu TCVN 7888:2014 về sản phẩm; thiết kế móng cọc theo TCVN 10304:2025 trong phạm vi áp dụng.
Khảo sát và định vị
Phương pháp định vị có thể dùng máy toàn đạc, GNSS/RTK, hệ mốc trên bờ, khung dẫn hoặc giải pháp chuyên dụng tùy điều kiện dự án. Sonar hay camera dưới nước có thể hữu ích trong một số công việc nhưng không phải thiết bị bắt buộc cho tất cả công trình.
Điểm quan trọng là hệ mốc phải ổn định, có khả năng kiểm tra chéo và quy trình định vị phải phù hợp độ chính xác mà thiết kế yêu cầu.
Nền công tác và thiết bị
Thiết bị có thể được bố trí trên sà lan, hệ nổi, giàn công tác hoặc nền tạm được thiết kế phù hợp. Không nên dùng các quy tắc như “búa tối thiểu 90 kW” hay “cẩu 55–80 tấn” nếu chưa tính loại cọc, khối lượng nâng, tầm với, năng lượng hạ cọc và điều kiện ổn định.
Hạ cọc dưới nước
- Kiểm tra cấu kiện và mối nối trước khi hạ.
- Dùng khung dẫn hoặc biện pháp kiểm soát trục cọc phù hợp.
- Theo dõi tim, độ thẳng và diễn biến hạ cọc.
- Không áp một giá trị độ chối chung như “10 mm/30 giây” cho mọi loại búa/cọc.
- Khi cọc gặp vật cản hoặc sai khác lớn so với địa chất dự kiến, cần dừng và đánh giá.
Chiều sâu và lớp chịu lực
Không có yêu cầu chung rằng mũi cọc phải xuyên vào “tầng chịu lực ít nhất 1,5 m”. Chiều sâu và cơ chế chịu lực được xác định trong thiết kế móng; cọc có thể làm việc nhờ ma sát thành, sức kháng mũi hoặc kết hợp.
Kiểm soát ảnh hưởng môi trường và công trình lân cận
Thi công dưới nước có thể ảnh hưởng tới bờ, công trình lân cận, luồng giao thông thủy và chất lượng nước. Biện pháp thi công cần xem xét xói, rung chấn, tràn dầu, vật rơi và an toàn đường thủy theo yêu cầu dự án và quy định liên quan.
Nghiệm thu
Hồ sơ nên ghi nhận vị trí thực tế, cao độ, chiều dài, mối nối, thiết bị, nhật ký hạ cọc và các thí nghiệm kiểm tra được thiết kế yêu cầu. Với cọc đóng/ép, TCVN 9394:2012 là tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu cần đối chiếu trong phạm vi áp dụng.
Kết luận: điều kiện đáy sông yếu không thể giải quyết bằng một bộ thông số thiết bị cố định. Phương án đúng phải bắt đầu từ khảo sát, thiết kế móng và thiết kế biện pháp thi công cho chính vị trí công trình.
