Kiểm soát độ thẳng và diễn biến hạ cừ Larsen trong thi công

Đảm bảo độ thẳng đứng và độ xuyên cọc cừ Larsen giúp nâng cao hiệu quả thi công, tránh rò rỉ nước và đảm bảo an toàn cho công trình lân cận.

Độ thẳng và diễn biến hạ cừ phải được kiểm soát theo thiết kế, biện pháp và hệ trắc địa của dự án. Không nên dùng một tỷ lệ 1/200–1/300 như dung sai chung nếu chưa có căn cứ áp dụng.

Tim tuyến và khung dẫn

Mốc phải được bảo vệ và kiểm tra. Khung dẫn giữ thanh đầu và hạn chế sai số tích lũy qua khóa.

Kiểm tra cừ trước khi hạ

Cong, xoắn, khóa bẹt hoặc đầu hư làm tuyến khó giữ. Cừ tái sử dụng cần phân loại trước khi vào máy.

Theo dõi trong quá trình hạ

Ghi cao độ, diễn biến xuyên, phương cừ và hiện tượng khóa. Tần suất đo theo biện pháp, không cố định “mỗi 1–2 m”.

Không chọn búa theo kW chung

Thiết bị được chọn từ cừ, đất, lực kẹp, đặc tính rung và máy cơ sở. Chiều dài cừ cũng do thiết kế, không dùng dải 8–18 m như chuẩn.

Ví dụ cừ bắt đầu xoay

Dừng, kiểm tra thanh trước, khóa và khung dẫn. Nếu tiếp tục ép/rung khi khóa đã lệch, sai số có thể tăng cho cả tuyến.

Tiêu chuẩn

TCVN 9685:2025 là tiêu chuẩn sản phẩm cọc ván thép cán nóng. Dung sai thi công và yêu cầu tuyến phải lấy từ hồ sơ thiết kế/tiêu chuẩn thực sự áp dụng cho dự án.

Xem tiêu chuẩn, định mức cừ Larsen.

Độ thẳng bắt đầu từ cừ đầu tiên

Thanh đầu định hướng cho các khóa tiếp theo. Nếu nó lệch, thanh sau thường phải chịu lực cưỡng bức để ghép khóa. Vì vậy nên dành thời gian kiểm tra mốc, khung dẫn và phương thanh đầu thay vì chạy nhanh ở đầu tuyến.

Độ xuyên chỉ là diễn biến, không phải tiêu chí nghiệm thu duy nhất

Tốc độ xuyên có thể thay đổi do đất, khóa, tình trạng cừ hoặc thiết bị. Khi cừ xuống chậm, cần phân tích nguyên nhân. Không dùng “độ xuyên tiêu chuẩn” như một con số chung cho mọi tường cừ.

Quan trắc trắc địa

Tần suất đo tim/cao độ và phương do biện pháp quy định theo chiều dài tuyến và rủi ro. Ở góc chuyển hướng hoặc cạnh sát nhà, có thể cần kiểm tra dày hơn phần tuyến thẳng.

Cừ cong và khóa lỗi

Cừ cong nhẹ vẫn có thể làm lỗi tuyến tăng dần. Nếu khóa không trượt tự do, cần làm sạch/sửa trước khi hạ. Đừng dùng búa để “ép khóa khớp” vì có thể làm biến dạng thêm.

Ví dụ sai số tích lũy

Một thanh đầu chỉ lệch nhẹ nhưng sau nhiều khóa, đỉnh tuyến có thể dịch đáng kể. Nếu phát hiện sớm sau vài thanh, việc chỉnh khung và trình tự còn khả thi; để tới cuối tuyến có thể phải nhổ lại.

Khi nào dừng?

  • Cừ xoay nhanh.
  • Khóa kẹt.
  • Diễn biến xuyên khác hẳn thanh bên cạnh.
  • Nền máy lún.
  • Quan trắc tường/công trình lân cận bất thường.

Hồ sơ hoàn công

Ghi tuyến, cao độ đầu cừ và các xử lý bất thường theo yêu cầu dự án. Dữ liệu phải liên kết được với nhật ký và biên bản hệ chống nếu có.

Đo chuyển vị của tường cừ sau khi hạ

Độ thẳng của từng thanh không thay thế quan trắc chuyển vị của hệ tường khi đào. Với hố nhạy cảm, chương trình đo tiếp tục sau khi hạ cừ để kiểm tra ảnh hưởng của đào, hệ chống và nước.

Góc tuyến và đoạn chuyển hướng

Góc là vị trí dễ phát sinh cưỡng khóa. Cần kiểm tra trước hình học, thanh góc/chuyển tiếp và khoảng làm việc của máy. Sai số ở đoạn thẳng nên được xử lý trước khi tiến tới góc.

Kiểm tra sau khi lắp hệ chống

Hệ chống thay đổi trạng thái làm việc của tường cừ. Sau lắp, cần kiểm tra liên kết, cao độ và số liệu chuyển vị theo kế hoạch. Việc thanh cừ đã hạ thẳng không bảo đảm tường vẫn ổn định khi tải đất tăng.

Ghi nhận xử lý sai lệch

Nếu phải nhổ/chỉnh một thanh, nhật ký cần ghi nguyên nhân và ảnh hưởng tới các khóa lân cận. Dữ liệu này giúp tránh lặp lại lỗi ở phần tuyến tiếp theo.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *